Pháp luật công cụ hỗ trợ bảo vệ an ninh, trật tự nhìn từ góc độ kiểm soát ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Đăng vào 16/01/2018 15:21:16

PHÁP LUẬT CÔNG CỤ HỖ TRỢ BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KIỂM SOÁT NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

 

TS.GVC. Nguyễn Thị Dung *

Bài đăng Tạp chí Luật học – số 8/2016, tr 48

 

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề pháp lí liên quan đến kinh doanh công cụ hỗ trợ bảo vệ an ninh, trật tự dưới góc độ kiểm soát điều kiện kinh doanh phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

Từ khoá: An ninh, trật tự; công cụ hỗ trợ; kinh doanh có điều kiện.

1. Công cụ hỗ trợ bảo vệ an ninh, trật tự và cơ sở pháp lí của quyền kinh doanh công cụ hỗ trợ trong nền kinh tế thị trường

1.1. Công cụ hỗ trợ bảo vệ an ninh, trật tự là hàng hoá có tính chất đặc biệt

Dưới góc độ ngôn ngữ học, có thể hiểu công cụ hỗ trợ (CCHT) là những thứ được sử dụng để trợ giúp tiến hành một công việc nào đó, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, vì nhiều mục đích khác nhau. Trong lĩnh vực quản lí nhà nước, CCHT là các loại “phương tiện đặc biệt chuyên dùng, được trang bị cho những đối tượng theo quy định của pháp luật nhằm giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao”.([1]) Nếu phương tiện chuyên dùng đặc biệt này có tác dụng hỗ trợ công tác bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) thì được gọi là CCHT bảo vệ ANTT.

Để quản lí nhà nước đối với việc kinh doanh, quản lí, vận chuyển, sử dụng CCHT, pháp luật Việt Nam quy định liệt kê cụ thể các CCHT bảo vệ ANTT thuộc diện quản lí, bao gồm([2]): 1) Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này; 2) Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa; 3) Các loại lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ; 4) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khoá số tám, bàn chông đinh gai, áp giáp, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn; 5) Động vật nghiệp vụ.

Những đặc điểm trên đây đòi hỏi một cơ chế quản lí đặc biệt đối với CCHT bảo vệ ANTT: ai được sử dụng, ai được mua bán, các điều kiện cần đáp ứng trong bảo quản, sử dụng, mua bán v.v.. Để kiểm soát những nội dung này, nhà nước xếp CCHT bảo vệ ANTT vào danh mục ngành nghề cần đáp ứng các điều kiện về ANTT khi tiến hành hoạt động kinh doanh.Có thể nhận thấy, CCHT bảo vệ ANTT là loại hàng hoá đặc biệt so với các loại hàng hoá thông thường khác, thể hiện ở các khía cạnh: Một là CCHT bảo vệ ANTT là một phương tiện đặc biệt có khả năng sát thương cao, có tác dụng uy hiếp tinh thần. CCHT không phải là vũ khí và khác vũ khí ở chỗ nó ít có khả năng de doạ tính mạng của đối tượng. Khả năng này của CCHT dẫn đến “tính hai mặt” tích cực và tiêu cực tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng và năng lực quản lí, đó là, vừa có tác dụng hỗ trợ bảo vệ ANTT, vừa có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến ANTT nếu CCHT được sử dụng bừa bãi với mục đích gây rối. Với đặc tính này, so với các loại hàng hoá thông thường, CCHT trở thành hàng hoá đặc biệt và việc kinh doanh CCHT cần được xếp vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện để có thêm cơ chế quản lí và kiểm soát. Hai là CCHT là loại phương tiện đặc biệt, gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ nên luôn có sự đổi mới về mẫu mã, chủng loại. Khoa học công nghệ càng phát triển thì khả năng sáng tạo ra các CCHT thế hệ mới càng lớn. Thế hệ sản phẩm sau luôn ưu việt hơn về tính năng, tác dụng và hiệu quả lợi ích khi sử dụng. Điều này dẫn đến nguy cơ lạc hậu của các CCHT đã sản xuất, của các quy định pháp luật và của cơ quan công quyền trong quản lí, kiểm soát hoạt động kinh doanh CCHT. Đối với các quy định liệt kê các loại CCHT như trong pháp luật Việt Nam hiện hành thì nguy cơ này càng rõ nét. Tất yếu sẽ có giai đoạn, có loại được coi là CCHT (thuộc danh mục CCHT theo quy định của pháp luật hiện hành) nhưng không xuất hiện trên thị trường do đã bị lạc hậu và có những sản phẩm có đặc tính của CCHT (như súng bắn đạn điện, súng bắn lưới…) có nhu cầu thực tế mua bán, sử dụng cần được quản lí đặc biệt nhưng lại chưa được coi là CCHT trong quy định hiện hành, dẫn đến nhiều khó khăn trong thực thi pháp luật về kiểm soát hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này.

1.2. Cơ sở pháp lí của quyền kinh doanh công cụ hỗ trợ bảo vệ ANTT trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, việc sở hữu CCHT bảo vệ ANTT của các lực lượng vũ trang hay các cơ quan chuyên trách khác được hình thành thông qua quan hệ mua bán. Nhu cầu sử dụng, mua sắm hợp pháp CCHT của các tổ chức, cá nhân là lí do khiến CCHT trong lĩnh vực ANTT trở thành một loại hàng hoá và hình thành nhu cầu kinh doanh mặt hàng này của nhiều nhà đầu tư. Theo quy định hiện hành, CCHT bảo vệ ANTT không thuộc danh mục hàng hoá bị cấm kinh doanh.

Quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề pháp luật không cấm được ghi nhận tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 và được tiếp tục khẳng định tại Điều 7 Luật doanh nghiệp năm 2014. Để thực hiện quyền này, Luật đầu tư năm 2014 (Điều 7) quy định cụ thể danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, theo đó, pháp luật hiện hành không cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh CCHT.

Do không thuộc danh mục bị cấm kinh doanh nên quyền tự do đầu tư kinh doanh CCHT trong lĩnh vực ANTT được công nhận và bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, CCHT là hàng hoá có khả năng ảnh hưởng nhiều mặt đến ANTT, nhà nước cần có cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tự do kinh doanh loại hàng hoá hoá này thông qua các điều kiện kinh doanh cần đáp ứng, nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích của người kinh doanh và của toàn xã hội. Theo quy định của Luật đầu tư năm 2014, CCHT là hàng hoá thuộc danh mục 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Hiện nay, điều kiện kinh doanh CCHT được quy định tại các văn bản: Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 16/2011/UBTVQH12 về quản lí vũ khí, vật liệu nổ và CCHT  (được sửa đổi bổ sung năm 2013); Nghị định của Chính phủ số 72/2009/NĐ-CP ngày 3/9/2009 quy định về điều kiện ANTT đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT; Nghị định của Chính phủ số 25/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và CCHT và Thông tư của Bộ công an số 33/2010/TT-BCA ngày 5/10/2010 quy định cụ thể điều kiện kinh doanh về ANTT, Thông tư của Bộ công an số 30/2012/TT-BCA ngày 29/5/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và CCHT.

2. Kiểm soát hoạt động kinh doanh công cụ hỗ trợ theo pháp luật hiện hành

2.1. Kiểm soát thông qua việc thực hiện điều kiện về ANTT đối với hoạt động kinh doanh CCHT

Để kinh doanh CCHT, tổ chức, cá nhân (không phân biệt hình thức sở hữu) phải đăng kí thành lập doanh nghiệp tại phòng đăng kí kinh doanh thuộc sở kế hoạch và đầu tư theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp (trước đây gọi là giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh), doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT.

Theo quy định hiện hành, Cục cảnh sát quản lí hành chính về trật tự xã hội hoặc phòng cảnh sát quản lí hành chính về trật tự xã hội thuộc công an cấp tỉnh có thẩm quyền kiểm soát mức độ đáp ứng các điều kiện về ANTT của doanh nghiệp và quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Các điều kiện kinh doanh mà doanh nghiệp kinh doanh CCHT cần đáp ứng bao gồm: 

-  Điều kiện về người thành lập và quản lí doanh nghiệp kinh doanh CCHT: Ngoài các trường hợp bị cấm thành lập và quản lí doanh nghiệp theo quy định chung tại Luật doanh nghiệp, pháp luật hiện hành nghiêm cấm các cá nhân sau đây không được là người thành lập, quản lí hay trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh CCHT: Người nghiện ma tuý; người đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tố tụng đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, bị phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù; được tạm hoãn đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; người có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội do lỗi cố ý có mức án từ 10 năm trở lên hoặc các tội khác liên quan trực tiếp đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT mà chưa được xoá án tích; người đã bị áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị xử lí vi phạm hành chính.([3])

Như vậy, so với quy định về người thành lập, quản lí doanh nghiệp nói chung,([4]) pháp luật có yêu cầu cao hơn về nhân thân của người thành lập, người quản lí doanh nghiệp kinh doanh CCHT. Người này phải không bị “vết tích” liên quan đến các vấn đề về ANTT. Có những người không bị cấm thành lập, quản lí doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề thông thường, nhưng không đủ điều kiện để thành lập, quản lí doanh nghiệp kinh doanh CCHT, ví dụ: Người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, người có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội do lỗi cố ý có mức án từ 10 năm trở lên hoặc các tội khác liên quan trực tiếp đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT mà chưa được xoá án tích.

- Các điều kiện về ANTT, an toàn phòng cháy chữa cháy: Pháp luật hiện hành quy định trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh CCHT, doanh nghiệp cần chấp hành quy định về trật tự, an toàn công cộng, không kinh doanh trong khu vực, địa điểm mà pháp luật cấm hoạt động kinh doanh và đảm bảo thực hiện các đủ các quy định về hệ thống thiết bị phòng chống cháy, nổ. Tuy nhiên, quy định cụ thể thế nào là đảm bảo ANTT chưa được quy định rõ trong các văn bản pháp luật hiện hành.

- Điều kiện phù hợp quy hoạch theo quy định của Bộ công an và Bộ quốc phòng:([5]) Pháp luật hiện hành (Điều 16 Thông tư của Bộ công an số 30/2012/TT-BCA ngày 29/5/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và CCHT và Nghị định quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh) quy định việc thành lập doanh nghiệp kinh doanh CCHT phải phù hợp với quy hoạch về cơ sở, doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh CCHT theo quy định của Bộ quốc phòng, Bộ công an. Theo quy hoạch này, Bộ công an hạn chế về số lượng các cơ sở kinh doanh CCHT trong phạm vi một tỉnh và trong phạm vi toàn quốc. Ngoài các cơ sở, doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh công cụ hỗ trợ thuộc Bộ công an đã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, các thành phố trực thuộc trung ương không được phép thành lập quá hai cơ sở, doanh nghiệp. Trên phạm vi cả nước, các cơ sở, doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh CCHT hiện có và thành lập mới không quá 20 cơ sở, doanh nghiệp.

Việc quy định số lượng doanh nghiệp tối đa được cấp phép trong cả nước là 20 và mỗi thành phố trực thuộc trung ương có không quá 2 doanh nghiệp kinh doanh CCHT đang là quy định bất cập bởi vì đây không phải là một loại điều kiện kinh doanh và không đảm bảo quyền tự do kinh doanh, có nguy cơ dẫn đến hạn chế cạnh tranh, cần được xem xét chỉnh sửa trong thời gian tới.

2.2. Kiểm soát thông qua việc giới hạn phạm vi tự do kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh CCHT

Ngoài các quy định về điều kiện kinh doanh cần đáp ứng, thực hiện thông qua thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT, pháp luật hiện hành quy định giới hạn phạm vi tự do kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh CCHT, thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, giới hạn trong kí kết hợp đồng mua bán CCHT

Trong kinh doanh hàng hoá thông thường, doanh nghiệp có quyền tự do hợp đồng, theo đó, doanh nghiệp có quyền tự do lựa chọn khách hàng, tự do thoả thuận với khách hàng về đối tượng của hợp đồng cũng như các điều kiện mua bán cần thiết. Trong kinh doanh CCHT, quyền tự do hợp đồng bị hạn chế khá nhiều, xuất phát từ nhu cầu kiểm soát CCHT và người sử dụng CCHT. Hạn chế đối với quyền tự do hợp đồng thể hiện qua các khía cạnh như sau:

- Hạn chế về phạm vi chủ thể tham gia kí kết hợp đồng với doanh nghiệp kinh doanh CCHT: Pháp luật hiện hành quy định chỉ có những chủ thể được phép sử dụng CCHT mới được mua CCHT và trở thành chủ thể tham gia kí kết hợp đồng với doanh nghiệp kinh doanh CCHT. Các chủ thể này bao gồm: Các tổ chức thuộc quân đội nhân dân, dân quân tự vệ, công an nhân dân, an ninh hàng không; kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của hải quan, đơn vị hải quan cửa khẩu, đội kiểm tra của lực lượng quản lí thị trường, ban hoặc đội bảo vệ chuyên trách của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ, ban bảo vệ dân phố hoặc tổ chức quần chúng bảo vệ ANTT xã, phường, thị trấn, câu lạc bộ hoặc trường hoặc trung tâm đào tạo, huấn luyện thể thao có giấy phép hoạt động, cơ quan thi hành án dân sự, thanh tra chuyên ngành thủy sản, lực lượng kiểm ngư, trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội và các đối tượng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Để trở thành bên mua CCHT, những chủ thể này cần có giấy phép mua CCHT do cơ quan công an cấp.([6]) Như vậy, ngoài các chủ thể nêu trên thì các cá nhân và tổ chức khác không thể là bên mua trong hợp đồng mua bán CCHT. Quy định này đã hạn chế đáng kể thị trường của doanh nghiệp kinh doanh CCHT.

- Hạn chế bởi giấy phép mua CCHT do cơ quan công an cấp: Các doanh nghiệp kinh doanh CCHT chỉ được phép bán CCHT cho các cá nhân, tổ chức khi xuất trình được giấy phép mua CCHT do cơ quan công an cấp. Nội dung giấy phép mua CCHT (theo mẫu thống nhất của Bộ công an) nêu rõ tên tổ chức được phép mua, chủng loại, số lượng CCHT được phép mua và nơi mua (tên của doanh nghiệp bán CCHT). Thực tiễn hoạt động kinh doanh CCHT cho thấy, việc xác định địa chỉ mua CCHT là không cần thiết và không phù hợp với quyền tự do kinh doanh vì nó tiềm ẩn nguy cơ bất bình đẳng, tham nhũng và cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp kinh doanh CCHT. Nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, mẫu giấy phép cũng cần loại bỏ những thông tin không cần thiết để tránh tạo thêm những rào cản của quyền tự do kinh doanh.

Thứ hai, giới hạn về nội dung hoạt động kinh doanh CCHT

Kinh doanh “là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.([7]) Hiểu dưới góc độ này, hoạt động kinh doanh CCHT bảo vệ ANTT sẽ bao gồm các hoạt động sản xuất, mua bán, sửa chữa, cho thuê CCHT và các hoạt động khác có mục đích sinh lợi. Được coi là có hoạt động kinh doanh CCHT khi tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các hành vi trên đây, từ khâu sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm, kể cả phân phối sản phẩm do mình sản xuất hay phân phối sản phẩm được mua của nhà sản xuất về để bán lại cho người sử dụng… Tuy nhiên, pháp luật hiện hành quy định phạm vi, nội dung hoạt động kinh doanh CCHT hẹp hơn so với hoạt động kinh doanh các hàng hoá thông thường. Doanh nghiệp kinh doanh CCHT không được phép kinh doanh theo hình thức cho thuê hay cầm cố CCHT, bởi vì pháp luật nghiêm cấm thực hiện các hành vi cho, tặng, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố CCHT.([8]) Với quy định cấm đoán này, các hoạt động dịch vụ thương mại có liên quan đến hành vi trên (như cho thuê, cầm cố) đều không được phép tiến hành.

Thứ ba, giới hạn trong thực hiện xúc tiến thương mại

Theo pháp luật Việt Nam, để phát triển hoạt động kinh doanh và thâm nhập thị trường,  doanh nghiệp được xúc tiến thương mại bằng các hình thức quảng cáo, khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá và hội chợ, triển lãm thương mại. Tuy nhiên, Điều 134 Luật thương mại năm 2005 quy định cấm hàng hoá hạn chế kinh doanh([9]) tham gia hội chợ triển lãm. Khái niệm “hàng hoá hạn chế kinh doanh” trong Luật thương mại năm 2005 được xác định theo Nghị định của Chính phủ số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, hàng hoá hạn chế kinh doanh. Theo đó, CCHT sử dụng trong bảo vệ ANTT là hàng hoá hạn chế kinh doanh và bị cấm tham gia hội chợ triển lãm.

Tương tự như vậy, đối với hoạt động khuyến mại, Điều 100 Luật thương mại năm 2005 quy định cấm khuyến mại để bán hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh và cấm sử dụng hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh để khuyến mại.

Trong hoạt động quảng cáo, Điều 7 Luật quảng cáo năm 2012 quy định cấm quảng cáo đối với hàng hoá  có tính chất kích động bạo lực. Mặc dù chưa có giải thích chính thức về “hàng hoá có tính chất kích động bạo lực”, song không có doanh nghiệp kinh doanh CCHT nào mạo hiểm thực hiện quảng cáo súng bắn đạn nhựa, hơi cay, chất độc, gây mê hay các loại lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ… bởi các loại hàng hoá này gắn liền với bạo lực ngay từ tên gọi của nó.

Như vậy, CCHT trong lĩnh vực ANTT là loại phương tiện đặc biệt, có khả năng sát thương, uy hiếp tinh thần, làm tê liệt và hạn chế khả năng tấn công của đối phương và chỉ được trang bị cho một số cơ quan, tổ chức, cá nhân nhất định sử dụng nhằm mục đích bảo vệ ANTT, an toàn xã hội.([10]) Các phân tích trên đây về CCHT và kinh doanh CCHT cho thấy việc kiểm soát kinh doanh CCHT bằng pháp luật là cần thiết, song bối cảnh pháp luật hiện nay đòi hỏi phải có những thay đổi phù hợp với quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp như:

- Cần có cơ chế rà soát, chỉnh sửa kịp thời danh mục hàng hoá là CCHT, đây là công việc hết sức cần thiết trong quản lí hoạt động kinh doanh CCHT.

CCHT là những hàng hoá thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện nên việc quy định thừa hay thiếu các loại CCHT đều gây ra bất cập trong thực hiện. Theo thẩm quyền đã được quy định tại điều 7 Luật đầu tư năm 2014, Chính phủ định kì rà soát, sửa đổi, bổ sung các loại CCHT được phép kinh doanh. Xuất phát từ đặc trưng của CCHT là có khả năng sát thương, uy hiếp tinh thần, làm tê liệt và hạn chế khả năng tấn công của đối phương, trước mắt cần loại ra khỏi danh mục CCHT đối với một số loại sản phẩm chỉ có tính chất hỗ trợ bảo vệ cho người sử dụng, như găng tay bắt dao, lá chắn, áo giáp. Các công cụ này không có tác dụng đe doạ ANTT nên không cần quản lí đặc biệt. Bên cạnh đó, thực tiễn kinh doanh và sử dụng CCHT cho thấy, súng bắn đạn điện, súng bắn lưới đã và đang được nhập khẩu và sử dụng khá nhiều. Việc quy định bổ sung các loại này vào danh mục CCHT bảo vệ ANTT là cần thiết để có cơ chế kiểm soát phù hợp(11).

- Tư duy về hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh liệu có còn phù hợp?

Luật đầu tư năm 2014 là văn bản mới nhất quy định vấn đề này, theo đó, Luật chỉ quy định 2 danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Có nghĩa là, nhà nước không chủ trương hạn chế kinh doanh đối với bất kì mặt hàng nào, song có những hàng hoá dịch vụ cần thiết phải kiểm soát chặt hơn bằng các điều kiện kinh doanh cụ thể nhằm đảm bảo lợi ích nhiều mặt của doanh nghiệp và của toàn xã hội. Với tư duy đổi mới này, những quy định có tính chất là “điều kiện kinh doanh” là quy định hợp hiến, còn những quy định có tính chất ngăn cản, hạn chế kinh doanh sẽ trở thành quy định vi phạm quyền tự do kinh doanh đã được Hiến pháp công nhận. Để kiểm soát hoạt động kinh doanh CCHT, ngoài việc quy định điều kiện kinh doanh về ANTT mà người bán (doanh nghiệp) cần đáp ứng, pháp luật hiện hành còn kiểm soát hoạt động kinh doanh CCHT thông qua các quy định giới hạn phạm vi tự do kinh doanh với các quy định về số lượng tối đa doanh nghiệp kinh doanh CCHT được cấp giấy phép trong một địa bàn và trên toàn quốc, quy định về người được mua CCHT, nơi mua, loại hàng hoá được mua, loại hành vi kinh doanh được phép thực hiện… Nhiều quy định trong số này thể hiện rõ chủ trương hạn chế kinh doanh và đang trở nên lạc hậu so với tinh thần đổi mới của Hiến pháp năm 2013, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật đầu tư năm 2014.

Qua những phân tích trên, theo tác giả, quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật về quản lí, sử dụng CCHT cần phải tính đến việc loại bỏ các quy định hạn chế không cần thiết và không phù hợp với quyền tự do kinh doanh, bao gồm: Loại bỏ quy định về số lượng doanh nghiệp kinh doanh CCHT trong một thành phố và trong cả nước; loại bỏ quy định chỉ định địa chỉ mua CCHT trong mẫu giấy phép mua CCHT; loại bỏ quy định cấm hoạt động cho thuê, cầm cố CCHT, kèm theo quy định bổ sung về điều kiện kinh doanh đối với người cho thuê và điều kiện về giấy phép sử dụng CCHT đối với người thuê, quy định về nghĩa vụ quản lí CCHT là tài sản cầm cố đối với người nhận cầm cố CCHT… Bên cạnh đó, pháp luật cần ghi nhận quyền kinh doanh CCHT của các doanh nghiệp ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện tại chỉ cho phép thành lập doanh nghiệp kinh doanh CCHT tại các thành phố thuộc trung ương), nếu như các tổ chức kinh doanh này đáp ứng đầy đủ điều kiện kinh doanh theo quy định. Theo hướng đổi mới này, việc duy trì quy hoạch kinh doanh CCHT của Bộ công an là không cần thiết. Về lí luận cũng như thực tiễn, quy hoạch kinh doanh CCHT không phải là điều kiện kinh doanh nên việc loại bỏ khỏi điều kiện cần đáp ứng là phù hợp.

Những đề xuất sửa đổi, bổ sung trên đây không chỉ có ý nghĩa hoàn thiện pháp luật về kinh doanh CCHT phù hợp với Hiến pháp, Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư mà còn góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam trong từng lĩnh vực ngành nghề cụ thể./.


([1]).Xem: Bộ Công an, “Nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước về vũ khí, CCHT theo chức năng của lực lượng cảnh sát nhân dân, phục vụ phòng ngừa, phát hiện tội phạm trong tình hình mới”, Đề tài NCKH cấp bộ năm 2010, tr. 13.

([2]).Xem: Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 16/2011/UBTVQH12 về quản lí vũ khí, vật liệu nổ và CCHT.

([3]).Xem: Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 72/2009/NĐ-CP ngày 3/9/2009 quy định về điều kiện ANTT đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT.

([4]).Xem:  Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014.

([5]). Thông tư số 30/2012/TT-BCA ngày 29/5/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và CCHT và Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và CCHT.

([6]).Xem: Điều 19, Điều 20 Nghị định của Chính phủ số 25/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và CCHT.

([7]).Xem: Khoản 16 Điều 4 Luật doanh nghiêp năm 2014.

([8]).Xem: Điều 5 Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 về quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

([9]).Xem: Nghị định của Chính phủ số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.

([10]) (11).Xem: Vũ Thị Tuyết Thanh, “Pháp luật về kinh doanh CCHT sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh trật tự”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014.