Đánh giá khả năng thực thi pháp luật hiện hành về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Đăng vào 16/01/2018 15:06:22

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THỰC THI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở   VIỆT NAM

Tiến sỹ. GVC. NGUYỄN THỊ DUNG

Bài đăng Tạp chí Luật học số 1/2017, tr 12

Tóm tắt: Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2014 là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về doanh nghiệp xã hội (DNXH). Sau một năm luật này có hiệu lực thi hành (từ 1/7/2015), sự hiện diện của pháp luật về DNXH chưa tạo được điểm nhấn nổi bật trong quá trình thực thi. Hướng tới mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý cho DNXH tồn tại, hoạt động và phát triển, cần tiếp tục có những nghiên cứu, đánh giá khoa học, toàn diện về giá trị thực tiễn của các quy định pháp luật hiện hành về DNXH ở Việt Nam. Do DNXH không phải là một loại hình doanh nghiệp riêng biệt, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) không thực hiện thống kê riêng về DNXH nên bài viết chủ yếu bình luận từ góc độ khoa học về khả năng thực thi pháp luật hiện hành về DNXH thông qua việc (i) xác định tư cách pháp lý của DNXH trước và sau khi có LDN 2014, (ii) đánh giá tác động của yếu tố lợi ích từ việc thực thi pháp luật về DNXH đến khả năng thực thi hiệu quả pháp luật DNXH và (iii) đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về DNXH ở Việt Nam.

Từ khoá: Doanh nghiệp xã hội, cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, Luật doanh nghiệp 2014.

  1. Tư cách pháp lý của doanh nghiệp xã hội trong nền kinh tế trước và sau khi có Luật Doanh nghiệp 2014

Ở Việt Nam, khái niệm DNXH ra đời và được sử dụng từ trước khi có quy định pháp luật về DNXH. Một số tổ chức, cá nhân đã nghiên cứu, khảo sát về DNXH tư từ trước năm 2014, trong đó, nổi bật là một công trình nghiên cứu lớn của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, thực hiện năm 2012 với sự hỗ trợ, tài trợ của Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (SCIP) và Hội đồng Anh mang tên: “DNXH tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách”.

Trên website chính thức của Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng, từ năm 2008 (năm thành lập SCIP) đã sử dụng khái niệm DNXH để chỉ những tổ chức có đăng ký hoặc có giấy phép hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp, trung tâm, hợp tác xã, quỹ… có định hướng xã hội trong mục tiêu hoạt động, cụ thể là có định hướng giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, dịch vụ công, phát triển kinh tế địa phương và việc làm cho nhóm yếu thế[1]. Như vậy, có thể thấy, ngay từ khi chưa có luật, “doanh nghiệp xã hội” đã xuất hiện với tính chất là một khái niệm kinh tế, được sử dụng để chỉ nhóm các tổ chức (doanh nghiệp và không phải là doanh nghiệp) hoạt động vì mục tiêu xã hội, môi trường, vì lợi ích cộng đồng.

Báo cáo khảo sát về DNXH năm 2011 do Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (SCIP) thực hiện với sự hỗ trợ của Hội đồng Anh đã cho rằng: có thể xem DNXH đầu tiên được thành lập tại Việt Nam vào năm 1973, với sự ra đời của Hợp tác xã Nhân Đạo thuộc Hội Người khuyết tật Việt Nam[2] và có khoảng 167 tổ chức có các đặc điểm đặc trưng của một DNXH trong khoảng 500 tổ chức có định hướng hoạt động gần với mục tiêu xã hội (tính đến hết năm 2010)[3]. Với các nghiên cứu, khảo sát về DNXH và thực tiễn hoạt động của các DNXH tại Việt Nam, có thể nhận thấy một số điểm nổi bật như sau về tư cách pháp lý của DNXH trước thời điểm ban hành Luật Doanh nghiệp 2014:

Một là: DNXH (khi đó) là khái niệm dùng để chỉ các tổ chức được thành lập hợp pháp, có mục tiêu hoạt động là các mục tiêu xã hội, môi trường, vì lợi ích cộng đồng, bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, quỹ, trung tâm từ thiện (chủ yếu là các tổ chức phi chính phủ)… Gần 200 DNXH hoạt động tại Việt Nam[4] trước năm 2014 là con số thống kê tất cả những tổ chức này.

Hai là: Những DNXH theo hình thức doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật doanh nghiệp ở thời điểm đăng ký thành lập (Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005) và hoạt động như các doanh nghiệp kinh doanh mà không có sự phân biệt cụ thể về chế độ, chính sách. DNXH theo các hình thức khác [N1] sẽ thành lập và hoạt động theo Luật HTX và các văn bản pháp luật về thành lập hội, quỹ, trung tâm từ thiện.

Ba là: Phạm vi lĩnh vực hoạt động của các DNXH khá rộng, bao gồm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, dịch vụ công, phát triển kinh tế địa phương và việc làm cho nhóm yếu thế.

Từ năm 2014, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp (2014), DNXH trở thành một khái niệm pháp lý. Theo pháp luật hiện hành, tư cách pháp lý của DNXH có một số điểm khác biệt so với các nghiên cứu và khảo sát thực tiễn trước đây, cụ thể là:

Thứ nhất, DNXH được thành lập và hoạt động theo một loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, công ty hợp danh[5].

Như vậy, trước hết, DNXH là doanh nghiệp. Các HTX, các tổ chức phi chính phủ hoạt động vì mục tiêu xã hội và môi trường không phải là DNXH theo quy định pháp luật hiện hành. DNXH cũng không phải là một loại hình doanh nghiệp mới trong nền kinh tế, bởi nó đăng ký và hoạt động với tư cách pháp lý của một DNTN, công ty TNHH hay Công ty cổ phần... Do đó, quyền và nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý, vấn đề thành lập, giải thể DNXH được thực hiện theo quy định đối với loại hình doanh nghiệp mà nó đăng ký thành lập.

Thứ hai, một doanh nghiệp chỉ trở thành DNXH khi đáp ứng các tiêu chí luật định, đó là: có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; có sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường[6].

Như vậy, với giới hạn hẹp hơn về hình thức tồn tại (là doanh nghiệp), về phạm vi hoạt động gắn với mục tiêu xã hội và môi trường (loại trừ yếu tố dịch vụ công), về tỉ lệ lợi nhuận hàng năm phải tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, có thể thấy, khi Luật doanh nghiệp 2014 đã có hiệu lực, số DNXH thực chất đang tồn tại ở Việt Nam sẽ ít hơn số liệu công bố trong các kết quả khảo sát, nghiên cứu chính thức trước đây. Thực tiễn này cho thấy, dù Luật Doanh nghiệp 2014 có Điều 10 về DNXH hay không, các doanh nghiệp mang bản chất của DNXH cũng đã và đang thành lập, hoạt động ở Việt Nam theo thủ tục thành lập doanh nghiệp nói chung, với tên gọi là một DNTN, công ty TNHH hay công ty cổ phần.

  1. Đánh giá khả năng thực thi hiệu quả pháp luật về DNXH ở Việt Nam từ góc độ lợi ích của việc thực thi các quy định mới về doanh nghiệp xã hội
    1. Một số đánh giá từ góc độ lợi ích của nhà nước

          Pháp luật hiện hành về DNXH được ban hành là cơ hội để nhà nước tuyên bố chính thức chính sách phát triển dành cho DNXH, là cơ hội để nhà nước thực hiện quản lý tốt hơn hoạt động của DNXH và thông qua đó, nâng cao hiệu quả của các hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng từ nhiều nguồn vốn khác nhau.

DNXH có một số khác biệt so với doanh nghiệp thông thường và khác biệt so với các tổ chức từ thiện. DNXH là tổ chức kinh doanh, có hoạt động kinh doanh - điều này khác với các tổ chức từ thiện thuần tuý. DNXH có nguồn kinh phí hoạt động là vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp, vốn vay, vốn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài và phải dành đa số lợi nhuận hàng năm (51%) để tái đầu tư thực hiện mục đích giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường vì lợi ích cộng đồng - điều này khác với các doanh nghiệp kinh doanh thông thường. Những đặc trưng này là cơ sở để nhà nước áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư dành cho DNXH, đồng thời thực hiện kiểm soát việc thực hiện mục tiêu xã hội, việc sử dụng vốn tài trợ của doanh nghiệp. Về chính sách hỗ trợ và ưu đãi, Điều 2 Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định rõ chính sách phát triển đối với doanh nghiệp xã hội, theo đó, “1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; 2. Doanh nghiệp xã hội được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật”[7]. Pháp luật cũng quy định rõ quyền tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài, tiếp nhận tài trợ bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường[8].

          Từ những đặc thù của DNXH, việc ban hành và tổ chức thực thi pháp luật về DNXH là công cụ để nhà nước quản lý các cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của DNXH, quản lý việc tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn tài trợ, công khai, minh bạch việc sử dụng các nguồn vốn trong thực hiện mục tiêu xã hội đã đăng ký và cam kết thực hiện. Nhìn chung, nghĩa vụ của DNXH được quy định khá nhiều, cơ bản là đủ để nhà nước thực hiện được các mục đích quản lý nêu trên. Cụ thể bao gồm các nghĩa vụ sau đây:

  1. Thực hiện tiếp nhận tài trợ theo đúng thủ tục, trình tự pháp luật quy định, đặc biệt là phải thông báo cho Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện trợ, tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi doanh nghiệp có trụ sở chính về việc tiếp nhận tài trợ;
  2. Đăng ký DNXH theo thủ tục đăng ký doanh nghiệp nói chung, có thể đăng ký cụm từ “xã hội” trong tên DNXH hoặc không có thêm cụm từ khác việt nào so với tên doanh nghiệp thông thường.
  3. Thông báo Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động;
  4. Chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường theo đúng trường hợp, điều kiện, thủ tục pháp luật quy định. DNXH phải công khai hoá việc chấm dứt này và có thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan về xử lý số dư tài sản hoặc tài chính đối với nguồn viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp xã hội đã tiếp nhận (nếu còn)[9].
  5. Khi giải thể, doanh nghiệp xã hội phải trả lại số dư tài sản hoặc tài chính thuộc nguồn tài trợ đã nhận cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã viện trợ, tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức khác có mục tiêu xã hội tương tự.
  6. Nghĩa vụ hoàn lại toàn bộ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ dành riêng cho doanh nghiệp xã hội nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nội dung Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường;
  7. Nghĩa vụ công khai, minh bạch hoạt động của DNXH: báo cáo định kỳ đánh giá tác động xã hội đối với các hoạt động doanh nghiệp (trường hợp nhận ưu đãi, viện trợ, tài trợ, định kỳ hằng năm) hoặc báo cáo khi được yêu cầu gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện trợ, tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp xã hội có trụ sở chính …

Sẵn sàng cho việc thực thi pháp luật về DNXH - công cụ quản lý nhà nước đối với DNXH, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành các biểu mẫu cần thiết cho thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp xã hội[10]. Tuy nhiên, thái độ tiếp nhận và thực thi pháp luật của DNXH là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả thực thi pháp luật về DNXH, bởi vì nếu muốn né tránh việc thực hiện các nghĩa vụ nêu trên, doanh nghiệp chỉ cần giảm tỷ lệ lợi nhuận hàng năm sử dụng để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường xuống thấp hơn 51% tổng lợi nhuận hằng năm. Khi đó, doanh nghiệp đương nhiên không đủ tiêu chí để trở thành DNXH.

  1.  Một số đánh giá khả năng thực thi hiệu quả pháp luật về DNXH từ góc độ lợi ích của doanh nghiệp xã hội

Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thông thường, DNXH sẽ có thêm các quyền và nghĩa vụ quy định riêng cho DNXH. Trong sự so sánh với quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thông thường, nếu như DNXH có được nhiều lợi ích, có lợi ích hơn hẳn hoặc lợi ích tương xứng với việc phải thực hiện thêm các nghĩa vụ thì việc thực thi pháp luật về DNXH sẽ mang tính tích cực và tự nguyện. Ngược lại, nếu lợi ích không rõ ràng trong khi bị ràng buộc thực hiện thêm rất nhiều nghĩa vụ công khai thông báo, báo cáo, kiểm soát… sẽ dẫn đến thực tế nhà đầu tìm cách né tránh, không mặn mà với mô hình DNXH mới được quy định trong luật.

Từ góc độ lợi ích của doanh nghiệp, có thể bình luận một số vấn đề mang tính thực tiễn như sau:

Một là, nếu không có quy định pháp luật về DNXH, các doanh nghiệp có mục tiêu hoạt động vì xã hội, môi trường, vì lợi ích cộng đồng có cở sở pháp lý để thành lập và hoạt động hợp pháp không?

Các phân tích tại mục 1 cho thấy rõ, DNXH không phải là một loại hình doanh nghiệp mới mà nó được đăng ký thành lập theo mô hình DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh mà luật doanh nghiệp đã quy định. Như vậy, việc pháp luật doanh nghiệp có quy định riêng về DNXH hay không, không phải là yếu tố quyết định sự có mặt của DNXH trong nền kinh tế. DNXH khi đó hiện diện với tư cách pháp lý của một loại hình doanh nghiệp thông thường và tuân thủ các quy định dành cho loại hình doanh nghiệp đó.

Hai là, bên cạnh các nghĩa vụ mà DNXH phải thực hiện ngoài các nghĩa vụ phổ biến của doanh nghiệp, DNXH có những quyền và lợi ích nào hơn so với doanh nghiệp thông thường?

Pháp luật hiện hành quy định DNXH có một số quyền như sau:

- Doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Ngoài các khoản viện trợ này, doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận tài trợ bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường[11]. Tuy nhiên, không có quy định nào ngăn cản quyền nhận tài trợ của một doanh nghiệp thông thường. Vấn đề quan trọng là ở khả năng thuyết phục nhà tài trợ của doanh nghiệp.

- Về ưu đãi đầu tư, mọi doanh nghiệp (bao gồm DNXH) thành lập, hoạt động trong những ngành nghề, địa bàn thuộc phạm vi ngành nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định tại Điều 16 của Luật Đầu tư năm 2014 thì được hưởng các chính sách, ưu đãi, khuyến khích, bao gồm: ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định, nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất[12]. Pháp luật Việt Nam quy định về ưu đãi đầu tư dựa trên căn cứ chủ yếu là địa bàn đầu tư, ngành nghề, lĩnh vực đầu tư. Đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư là những dự án đầu tư thuộc địa bàn và lĩnh vực được ưu đãi và những dự án đầu tư có mức vốn lớn, sử dụng nhiều lao động, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ (Khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014).

Rõ ràng, pháp luật hiện hành không có quy định ưu đãi dành riêng cho DNXH. Mọi doanh nghiệp thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư và thuộc đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư đều được miễn, giảm thuế theo quy định. Quy định về nghĩa vụ của DNXH nhiều hơn hẳn các quyền được quy định cụ thể cho DNXH. Điều này tất yếu dẫn đến sự cân nhắc giữa nghĩa vụ và lợi ích khi doanh nghiệp lựa chọn mô hình DNXH hay doanh nghiệp thông thường. Với quy định hiện hành, việc né tránh mô hình DNXH không quá khó khăn, ví dụ: thay vì cam kết sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường thì doanh nghiệp chỉ cam kết tỷ lệ là 50%). Khi đó, doanh nghiệp không đủ tiêu chí trở thành DNXH và không phải thực hiện các quy định riêng dành cho DNXH.

Như vậy, khi thực thi pháp luật hiện hành, lợi ích mà doanh nghiệp có được từ việc đăng ký DNXH không phải từ chính sánh ưu đãi đầu tư, vì thực tế các doanh nghiệp thông thường trong điều kiện tương tự cũng có được các ưu đãi này. Thiết nghĩ, về lý thuyết, lợi ích chủ yếu có được từ việc đăng ký DNXH là việc công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội sẽ giúp doanh nghiệp có lợi thế trong việc tiếp cận các nguồn vốn viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Những phân tích, bình luận trên đây cho thấy, các quy định pháp luật về DNXH được ban hành đã xuất phát từ lợi ích quản lý nhà nước nhiều hơn là xuất phát từ lợi ích từ doanh nghiệp. Để tăng cường khả năng và hiệu quả thực thi pháp luật về DNXH, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về DNXH theo hướng bù đắp thiếu hụt này của pháp luật hiện hành.

  1. Một số ý kiến tiếp tục hoàn thiện pháp luật về DNXH nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về DNXH

Ở góc độ đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với DNXH, các quy định hiện hành khá đầy đủ, hợp lý và phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Điều này thể hiện qua chùm quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội, quy định về công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội (thay cho thủ tục chuyển đổi DNXH mà dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp xây dựng trước đây), quy định linh hoạt trong việc đặt tên cho DNXH (không bắt buộc phải xưng danh là DNXH) v.v..  

Việc đăng ký DNXH và công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội chỉ có khả năng về lý thuyết giúp doanh nghiệp có lợi thế trong việc tiếp cận các nguồn vốn viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân, vì thực tế, DNXH còn cần có phương án kinh doanh và phương án thực hiện mục tiêu xã hội hiệu quả để thuyết phục nhà tài trợ. Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về DNXH theo định hướng đáp ứng tốt hơn lợi ích của DNXH là giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về DNXH ở Việt Nam hiện nay. Từ góc độ này, tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp dưới đây:

 Một là: Bổ sung quy định coi DNXH là đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, bên cạnh các quy định hiện hành về địa bàn và lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Với quy định mới này, DNXH sẽ được hưởng ưu đãi đầu tư ngay cả khi dự án đầu tư không thuộc địa bàn và lĩnh vực đầu tư được hưởng ưu đãi. Thực hiện giải pháp này, cần bổ sung vào điểm đ, khoản 2, Điều 15 Luật Đầu tư 2014 cụm từ “Doanh nghiệp xã hội” bên cạnh các cụm từ “Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ”, theo đó, tất cả các doanh nghiệp dduwwocj liệt kê tại điểm đ sẽ đều thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư. Quy định tương ứng trong các luật thuế cũng cần được bổ sung theo hướng này, nhằm mang lại lợi ích vượt trội của DNXH so với các doanh nghiệp thông thường.

Hai là: Quy định rõ nghĩa vụ thông báo và công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp có sử dụng thường xuyên, định kỳ hàng năm các khoản viện trợ, tài trợ[N2]  dành cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Như vậy, việc kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn tài trợ sẽ tốt hơn. Với quy định hiện tại, chỉ những DNXH, tức là những doanh nghiệp đáp ứng đủ tiêu chí của DNXH quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 mới có nghĩa vụ này. Điều 5 Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định: “Doanh nghiệp xã hội phải thông báo Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động”. Quy định hiện hành này có thể gây tranh luận rằng, doanh nghiệp chưa hoặc không đăng ký DNXH thì không có nghĩa vụ thực hiện thông báo và công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, dẫn đến giảm hiệu quả thực thi pháp luật hiện hành về DNXH. Mặt khác, nếu như muốn né tránh sự quản lý nhà nước, né tránh nghĩa vụ công khai hoá vốn tài trợ và việc sử dụng vốn tài trợ, doanh nghiệp chỉ cần giảm tiêu chí của DNXH để hoạt động như một doanh nghiệp bình thường.

Ba là: Cần có quy định chế tài áp dụng đối với các vi phạm pháp luật về DNXH. Việc quy định chế tài là giải pháp cần thiết đảm bảo hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về DNXH. Có rất nhiều các nghĩa vụ đã quy định nhưng chưa có chế tài áp dụng khi doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ đó. Nghị định số 155/2013/ NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư chưa có các quy định chế tài liên quan đến DNXH do ở thời điểm ban hành nghị định chưa quy định về DNXH. Sau khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, Chính phủ đã có kế hoạch sửa đổi bổ sung Nghị định 155/2013/NĐ-CP. Dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 155/2013/ NĐ-CP[13] đăng tải trên website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã bổ sung Điều 35c quy định chế tài đối với vi phạm quy định về DNXH:“Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Sử dụng ít hơn 51% tổng lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký; b) Sử dụng không đúng mục đích các khoản tài trợ được huy động”[14]. Việc bổ sung chế tài này là cần thiết, song quy định về hành vi vi phạm bị xử lý tại điểm a là không phù hợp, vì lý do: Tỷ lệ lợi nhuận đăng ký sử dụng để tái đầu tư thực hiện mục tiêu xã hội không nhất thiết là 51% tổng lợi nhuận hàng năm mà tối thiểu là 51% nên có thể có cam kết khác nhau ở mỗi doanh nghiệp. [N3] Do vậy, hành vi vi phạm bị xử phạt nên quy định là “a) Sử dụng ít hơn tỷ lệ nhuận hàng năm để tái đầu tư thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký”. Tức là, đăng ký tỷ lệ nào thì DNXH phải có nghĩa vụ thực hiện đúng mức tỷ lệ đó.

Trên cơ sở các phân tích trên đây, Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2013/ NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư nên quy định các hành vi vi phạm pháp luật về DNXH bị xử phạt bao gồm:

  • Hành vi không thông báo và công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường;
  • Hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng nội dung Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký (trong đó bao gồm cả cam kết về tỷ lệ lợi nhuận sử dụng tái đầu tư vì các mục tiêu xã hội và không nhất thiết là 51%);
  • Hành vi không thực hiện, chậm thực hiện nghĩa vụ báo cáo việc sử dụng các khoản viện trợ, tài trợ khi được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
  • Hành vi sử dụng không đúng mục đích toàn bộ hoặc một phần các khoản viện trợ, tài trợ.

Trong bối cảnh Luật doanh nghiệp năm 2014 đã có hiệu lực thi hành được hơn một năm, Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 155/2013/NĐ-CP  quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư cần được ban hành sớm với những đề xuất phù hợp trên đây, nhằm đáp ứng yêu cầu thực thi pháp luật về DNXH nói riêng và pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư nói chung.

 


[1] SCIP, Báo cáo khảo sát DNXH năm 2011 - https://app.box.com/s/zszzt7vnn7pco024j4nu, truy cập ngày 25/7/2016

[2] Báo cáo khảo sát DNXH năm 2011 - https://app.box.com/s/zszzt7vnn7pco024j4nu, truy cập ngày 25/7/2016, trang 8

[3] Báo cáo khảo sát DNXH năm 2011 - https://app.box.com/s/zszzt7vnn7pco024j4nu, truy cập ngày 25/7/2016, trang 12

[4] British Council, CIEM, CSIP,  “DNXH tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách” - 2012

[5] Điều 10 _ Luật Doanh nghiệp 2014; Điều 4 Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp

[6] Điều 10 – Luật Doanh nghiệp 2014

[7] Điều 2 Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp

[8]   Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp

[9] Điều 6  Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp

[10] Thông tư 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/6/2016 quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký DNXH

[11] Điểm c khoản 2 Điều 10 LDN năm 2014; Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP 

[12] Điều 15 Luật Đầu tư 2014

[13] www.mpi.gov.vn truy cập ngày 27/7/2013

[14] Dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 155/2013/ NĐ-CP - www.mpi.gov.vn truy cập ngày 27/7/2013

 [N1] Đã sửa - làm rõ

 [N2] xem lại Tác giả cho rằng nếu theo hướng này, sẽ tránh được nguy cơ né tránh thực hiện nghĩa vụ của DNXH (như  đã phân tích ở đoạn trên), điều này đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả thwucj thi của chính các quy định về DNXH. Nếu theo hướng này, việc sửa đổi bổ sung sẽ tiến hành tại Nghị định 96/2015 về hướng dẫn thi hành LDN 2014 – đây là văn bản đang tồn tại các quy điịnh về nghĩa vụ của DNXH

 [N3] xem lại  Tác giả đã sửa